CÁC MỐC PHÁT TRIỂN
1965 – 1975:
Xưởng Dược miền Trung trung bộ (K25) được thành lập với mục đích phục vụ nhu cầu phòng bệnh và điều trị cấp thiết của bộ đội và nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
* 1963 -1965, sản xuất hoàn toàn bằng thủ công: dập viên thuốc bằng vỏ đạn Carbin, bằng thúng lắc. Nguyên liệu từ dược liệu tại chỗ và miền Bắc chi viện vào.
* 1965 – 1968, sản xuất thuốc viên bằng máy dập viên TDP 1 chày quay tay, các loại viên hoàn mềm, hoàn cứng bằng thúng lắc. Sản xuất các loại thuốc tiêm, thuốc uống, nguyên liệu tại chỗ, miền Bắc chi viện. Ống tiêm rỗng từ xưởng thủy tinh K.35.
* 1968 – 1972, ngoài các sản phẩm đã sản xuất, xưởng đã nghiên cứu sản xuất thuốc chống choáng NT9, các loại Philatop uống và tiềm từ gan động vật (heo).
* 1972 – 1975, có máy phát điện, dập viên bằng máy TPD, các loại sản phẩm xưởng dược đã sản xuất:
- Các loại thuốc viên: Hoàng Đằng, viên Dền, ho cam thảo, ho giảm thống, viên rửa, Quinin sunfat, Vitamin B1, Sulfaguanidin.
- Các loại thuốc tiêm: nước cất, long não nước, novocain, strysnin, quinin clorhydrat, vitamin B12, vitamin B1...
- Các loại cao, xương động vật: Cao gạc nai, cao khỉ, cao phòng Đảng Sâm, viên hoàn mềm Phòng Đảng Sâm.
- Sản lượng cao nhất năm 1974: Viên các loại: 10 triệu viên, Ống tiêm các loại: 0,7 triệu ống.
Xưởng Dược Miền Trung trung bộ sát nhập xưởng dược Quảng Nam, và xưởng dược Quảng Đà hình thành nên Xí nghiệp Dược phẩm QNĐN đặt cơ sở tại 01 Lý Tự Trọng, thành phố Đà Nẵng với nhiệm vụ sản xuất theo kế hoạch được giao của Bộ Y tế và của UBKH tỉnh QNĐN. Hình thức sản xuất vẫn chủ yếu bằng phương pháp thủ công, nửa cơ giới, thiết bị tốt nhất: Máy dập viên ZP33, máy đóng hàn ống tiêm tự động hai vòi.
- Điều nổi bật trong giai đoạn này là áp dụng các sáng kiến cải tiến kỹ thuật bằng các thiết bị tự chế như: máy thái dược liệu cứng và mềm, tủ sấy điện, tủ sấy nước, máy sao dược liệu, máy đóng rượu, máy đóng viên hoàn cứng, v.v... Các thiết bị phục vụ cho việc kiểm tra chất lượng còn ở mức độ đơn giản.
1982 -1991
- Tháng 12/1981, UBND Tỉnh QNĐN quyết định thành lập Xí nghiệp Liên hợp Dược QNĐN trên cơ sở sáp nhập Công ty Dược phẩm tỉnh QNĐN và Xí nghiệp Dược phẩm QNĐN với nhiệm vụ:
- Điều tra khảo sát quy hoạch hướng dẫn nuôi trồng, thu mua các sản phẩm dược liệu, tinh dầu, tạo nguồn nguyên liệu tại chỗ cho sản xuất công nghiệp.
- Sản xuất các loại dược phẩm theo khả năng công nghệ của xí nghiệp.
- Lập kế hoạch và nhận các dược phẩm từ các công ty dược phẩm trung ương.
- Phân phối dược phẩm phục vụ cho các tuyến phòng bệnh và điều trị trong toàn tỉnh, mua bán các dược phẩm với các công ty cấp 3 và các công ty dược phẩm trong cả nước.
Trong giai đoạn này, có tập trung đầu tư tăng thêm máy dập viên ZP 33, MRT.41. Nửa cuối năm 1991, đầu tư máy đóng nang, máy đóng vỉ bấm và vỉ xé. XN cũng đã đầu tư một số công trình trọng điểm:
* Nhà sản xuất phân xưởng thuốc tiêm (1986 -1987) * Nhà sản xuất phân xưởng cao sao vàng và nhà nối tiêm (1988)
- Khoảng thời gian từ 1986 – 1989, thời kỳ chuyển đổi mạnh từ cơ chế bao cấp sang cơ chế hạch toán, hầu hết các sản phẩm sản xuất theo kế hoạch đều không bán được, tồn kho lớn, lãi suất ngân hàng 13%/tháng, xí nghiệp có nguy cơ mất vốn. Lương công nhân có tháng chỉ 10.000 đồng. XN buộc phải ra quyết định 007 trợ cấp thôi việc, công nhân nghỉ việc hơn 50% từ hơn 900 CBCNV còn 450 người.
- Thực hiện việc chi trả kiều hối để thu ngoại tệ, chuẩn bị và thành lập Xí nghiệp Liên doanh Danang Biopharm APS.
- UBND tỉnh QNĐN quyết định thành lập Xí nghiệp Dược phẩm Đà Nẵng và Công ty Dược phẩm Đà Nẵng trên cơ sở tách hai khối sản xuất và lưu thông của Xí nghiệp Liên hợp dược QNĐN.
XN Dược phẩm ĐN có chức năng sản xuất công nghiệp và tự tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Trong giai đoạn rất ngắn, xí nghiệp đã nâng cấp và sản xuất hàng trăm sản phẩm khác nhau phục vụ cho nhu cầu thị trường trong cơ chế mở cửa.
XN lần lượt thành lập hai Chi nhánh tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm tiêu thụ Miền Trung. Tập trung đầu tư hoàn thiện dây chuyền thuốc viên gồm các hạng mục: * Nhà xưởng
* Thiết bị viên capsule, viên nén, viên bao.
* Các thiết bị ép vỉ
Sự đầu tư này đã nâng cao sản lượng lên một cách đáng kể.
- Đầu tư cho hệ thống kiểm tra chất lượng
- Đầu tư và nâng cấp một số cơ sở sản xuất thuốc thông thường, thuốc tiêm
- Xí nghiệp Dược phẩm Đà Nẵng trở thành Thành viên của Tổng Công ty Dược Việt Nam và đổi tên thành Xí nghiệp Dược phẩm TW5.
- Trong giai đoạn này, XN Dược phẩm TW5 chuẩn bị cho việc xây dựng nhà máy GMP ở địa điểm mới (253 Dũng Sĩ Thanh Khê), trước khi bàn giao cơ sở ở 01 Lý Tự Trọng cho UBND Tp Đà Nẵng.
- 11/11/2001 Công trình nhà máy GMP chính thức được triển khai và chia thành hai giai đoạn:
* Giai đoạn đầu 2000-2003: Xây dựng xưởng thuốc viên, hệ thống kho GSP, khu kỹ thuật GLP.
* Giai đoạn 2004- 2005: Xây dựng khu văn phòng, xưởng thuốc nước, xưởng sản xuất cao dầu ống hít.
Cuối năm 2003, phân xưởng thuốc viên Non Betalactam được công nhận đạt chuẩn GMP ASEAN
Tháng 8/2005, Cục Quản lý Dược Việt Nam (Bộ Y tế) công nhận nhà máy đạt chuẩn GMP WHO (Thực hành sản xuất thuốc tốt theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới) với các dây chuyền thuốc viên, thuốc tiêm, cao dầu ống hít Non Beta lactam.
Tháng 8/2006, chuẩn bị các công đoạn cổ phần hóa cho việc tổ chức Đại hội đồng cổ đông hướng đến thành lập Công ty Cổ phần Dược Danapha.
01/01/2007, Công ty Cổ phần Dược Danapha chính thức hoạt động với hình thức sở hữu mới.
- Danapha tập trung đầu tư một loạt thiết bị hiện đại trong sản xuất.
- Cuối tháng 12/2008, Danapha chỉ định Công ty TNHH KPMG – là đơn vị kiểm toán cho Danapha bắt đầu từ năm tài chính 2008, khẳng định Danapha hướng đến việc quản trị doanh nghiệp theo các chuẩn mực quốc tế
- Tháng 8/2009, Danapha khởi công xây dựng nhà máy liên doanh Việt Mỹ theo công nghệ nano-liposome, song song với việc xây dựng Nhà máy GMP Đông Dược tại khu Công nghiệp Hòa Khánh.
- Tháng 10/2009, Danapha chính thức thành lập Công ty Cổ phần Dược Danapha Nanosome (DANOSOME)


















